Viêm khớp dạng thấp huyết thanh dương tính là thể bệnh mà xét nghiệm máu tìm thấy yếu tố dạng thấp (RF), kháng thể kháng CCP (anti-CCP) hoặc cả 2; còn huyết thanh âm tính là thể không tìm thấy cả 2 kháng thể đó nhưng người bệnh vẫn có đầy đủ biểu hiện của viêm khớp dạng thấp thật sự. Thể dương tính chiếm phần lớn số ca và có xu hướng bào mòn xương sớm hơn. Nhưng có một điều mà hầu hết bài viết bỏ qua: nhãn huyết thanh nói về kháng thể trong máu, nó không đo mức độ nặng của bệnh. Thứ quyết định tiên lượng là mức hoạt động của bệnh và thời điểm bạn bắt đầu điều trị.
Bài viết đi lần lượt qua định nghĩa thể dương tính, định nghĩa thể âm tính, điểm khác nhau giữa 2 thể, cách đọc kết quả xét nghiệm RF và anti-CCP, rồi khép lại ở việc thể huyết thanh ảnh hưởng ra sao tới hướng điều trị.
Viêm khớp dạng thấp huyết thanh dương tính là gì?
Viêm khớp dạng thấp huyết thanh dương tính là thể viêm khớp dạng thấp mà xét nghiệm máu tìm thấy yếu tố dạng thấp (RF), kháng thể kháng CCP (anti-CCP) hoặc cả 2 loại. Đây là thể thường gặp nhất. Theo Arthritis Foundation, khoảng 60 đến 80% người được chẩn đoán viêm khớp dạng thấp có kháng thể anti-CCP trong máu. Con số cụ thể thay đổi giữa các nghiên cứu, tùy quần thể khảo sát và tùy loại kháng thể được đo.

Trước hết cần gỡ một hiểu lầm về chữ “huyết thanh”. Nhiều người nghe từ này liền nghĩ tới huyết thanh truyền vào cơ thể. Thực ra huyết thanh là phần dịch trong còn lại của máu sau khi đã tách tế bào máu và các yếu tố đông máu, còn xét nghiệm huyết thanh học thì đi tìm kháng thể nằm trong phần dịch đó. Nên hai chữ “dương tính” chỉ có một nghĩa: phòng xét nghiệm đã tìm thấy loại kháng thể cần tìm. Nó không nói gì về việc bạn đau nhiều hay ít.
Hai kháng thể được nhắc tới ở đây là tự kháng thể. Nghĩa là chính hệ miễn dịch của bạn sinh ra chúng, không phải thứ từ ngoài xâm nhập vào. Đây cũng là điểm khiến viêm khớp dạng thấp được xếp vào nhóm bệnh tự miễn. Chúng nhận nhầm màng hoạt dịch, lớp màng mỏng lót mặt trong ổ khớp, là mục tiêu cần tiêu diệt. Phản ứng viêm kéo dài làm màng hoạt dịch dày lên, rồi ăn mòn dần sụn khớp và phần xương ngay dưới sụn. Đó là con đường dẫn tới biến dạng khớp.
Hai xét nghiệm này không ngang nhau về giá trị:
- Yếu tố dạng thấp (RF): ra đời từ thập niên 1940, đã được dùng rất lâu trong chẩn đoán viêm khớp dạng thấp. Điểm yếu của nó nằm ở tính đặc hiệu: các tổng quan y văn xếp độ đặc hiệu của RF vào khoảng 85%, nghĩa là xét nghiệm này còn dương tính trong một số bệnh khác.
- Kháng thể kháng CCP (anti-CCP, còn gọi là ACPA): xét nghiệm mới hơn, độ đặc hiệu vào khoảng 95% nên ít khi dương tính ở người không mắc bệnh. Một điểm đáng chú ý: anti-CCP có thể dương tính từ nhiều năm trước khi khớp đầu tiên sưng lên.
Vì sao hệ miễn dịch quay sang tấn công mô lành của chính cơ thể? Y học chưa trả lời trọn vẹn câu này. Những yếu tố được ghi nhận là làm tăng nguy cơ gồm giới nữ, tuổi khởi phát thường rơi vào khoảng 40 đến 60, thói quen hút thuốc lá và yếu tố di truyền trong gia đình.
Một điều cần nhớ trước khi sang phần sau: kết quả kháng thể là bằng chứng hỗ trợ, tự nó không thành chẩn đoán. Người ra kết luận là bác sĩ chuyên khoa cơ xương khớp hoặc nội thấp khớp, sau khi khám khớp và đối chiếu toàn bộ dữ liệu.
Viêm khớp dạng thấp huyết thanh âm tính là gì?
Viêm khớp dạng thấp huyết thanh âm tính là thể bệnh mà cả RF lẫn anti-CCP đều cho kết quả âm tính, nhưng người bệnh vẫn có đầy đủ biểu hiện lâm sàng của viêm khớp dạng thấp và vẫn được chẩn đoán mắc bệnh. Âm tính ở đây là âm tính với 2 kháng thể, không phải âm tính với bệnh. Tỷ lệ thể này được báo cáo rất khác nhau giữa các nghiên cứu, thường nằm trong khoảng 10 đến 30% tùy quần thể khảo sát, tùy ngưỡng xét nghiệm được dùng và tùy thời điểm nghiên cứu. Hai phần tiếp theo giải thích vì sao thể âm tính hay được phát hiện muộn, kèm danh sách những bệnh bác sĩ phải loại trừ trước khi chốt chẩn đoán.
Người mắc thể này vẫn viêm đa khớp đối xứng ở các khớp nhỏ bàn tay, bàn chân; vẫn cứng khớp buổi sáng kéo dài trên 30 phút; các chỉ số viêm như CRP và tốc độ máu lắng vẫn tăng trong đợt bệnh hoạt động. Phản ứng viêm tại màng hoạt dịch diễn ra y hệt. Khác biệt duy nhất là cơ thể không sinh ra 2 tự kháng thể kia.
Khó khăn nằm ở khâu chẩn đoán, mà nguyên nhân đến từ chính bộ tiêu chuẩn đang được dùng. Tiêu chuẩn phân loại viêm khớp dạng thấp ACR/EULAR 2010 tính điểm trên 4 nhóm tiêu chí gồm số khớp tổn thương, huyết thanh học, chỉ số viêm cấp và thời gian kéo dài triệu chứng; tổng tối đa 10 điểm, đạt từ 6 điểm trở lên thì được xếp là viêm khớp dạng thấp. Riêng nhóm huyết thanh học đã chiếm tới 3 điểm. Người có kết quả âm tính mất trắng 3 điểm này ngay từ đầu.

Hệ quả rất thực tế. Để bù lại phần điểm bị hụt, người thể âm tính phải viêm nhiều khớp hơn hoặc kéo dài lâu hơn thì mới đủ ngưỡng chẩn đoán. Nói cách khác, họ thường được gọi tên bệnh muộn hơn người thể dương tính có cùng mức tổn thương ban đầu. Một phần trong số họ vì thế đi qua mất “cửa sổ cơ hội”, tức là giai đoạn sớm mà việc kiểm soát viêm cho kết quả tốt nhất.
Những bệnh cần loại trừ trước khi kết luận âm tính
Khi cả 2 xét nghiệm đều âm tính, bác sĩ phải loại trừ một loạt bệnh khớp khác có biểu hiện gần giống trước khi chốt chẩn đoán viêm khớp dạng thấp. Đây là lý do bạn có thể được hẹn theo dõi thêm thay vì nhận kết luận ngay trong lần khám đầu.
- Viêm cột sống dính khớp và nhóm bệnh lý cột sống huyết thanh âm tính: gợi ý bởi đau vùng thắt lưng về đêm, đau khớp cùng chậu, khớp viêm thường không đối xứng.
- Viêm khớp vảy nến: đi kèm tổn thương da vảy nến, viêm cả ngón khiến ngón tay sưng phồng như khúc dồi, tổn thương móng dạng rỗ.
- Bệnh lắng đọng tinh thể calci pyrophosphat, còn gọi là gout giả: biểu hiện thành từng đợt viêm cấp ở khớp gối hoặc cổ tay, X-quang thấy hình ảnh calci hóa sụn khớp.
- Đau đa cơ do thấp: đau kèm cứng vùng vai và hông ở người trên 50 tuổi, tốc độ máu lắng tăng rất cao, khớp nhỏ bàn tay ít bị.
- Thoái hóa khớp: đau tăng lên khi vận động rồi dịu đi lúc nghỉ, cứng khớp buổi sáng thường dưới 30 phút, không có dấu hiệu viêm toàn thân.
Việc loại trừ này không phải thủ tục cho có. Các nghiên cứu theo dõi dài hạn ghi nhận một tỷ lệ nhỏ trường hợp ban đầu được chẩn đoán viêm khớp dạng thấp huyết thanh âm tính, sau nhiều năm lại được xếp lại thành bệnh khác, thường gặp nhất là nhóm bệnh lý cột sống hoặc bệnh lắng đọng calci pyrophosphat.
2 thể huyết thanh khác nhau ở đâu?
Hai thể giống nhau gần như hoàn toàn về triệu chứng tại khớp, khác nhau ở kết quả xét nghiệm kháng thể và ở xu hướng tiến triển. Bảng dưới đây đặt sáu tiêu chí mà người bệnh hay hỏi nhất cạnh nhau, sau đó là phần trả lời cho câu hỏi khó nhất: thể âm tính có thật sự nhẹ hơn không.
| Tiêu chí | Huyết thanh dương tính | Huyết thanh âm tính |
|---|---|---|
| Kháng thể trong máu | Có RF, anti-CCP hoặc cả 2 | Cả RF lẫn anti-CCP đều âm tính |
| Tỷ lệ trong tổng số ca | Chiếm phần lớn, các nghiên cứu thường báo cáo quanh mức 60 đến 80% | Phần còn lại, tỷ lệ báo cáo dao động rộng trong khoảng 10 đến 30% |
| Triệu chứng tại khớp | Đau và sưng khớp nhỏ đối xứng, cứng khớp buổi sáng thường trên 30 phút, mệt mỏi kéo dài | Gần như giống hệt thể dương tính, không có dấu hiệu riêng để phân biệt bằng mắt |
| Biểu hiện ngoài khớp | Tỷ lệ cao hơn về hạt thấp dưới da, viêm mạch máu, tổn thương phổi, khô mắt và các vấn đề tim mạch | Ít gặp hơn nhưng vẫn có thể xảy ra |
| Bào mòn xương trên X-quang | Xu hướng xuất hiện sớm và rõ hơn | Xu hướng chậm hơn khi so ở cùng thời điểm chẩn đoán |
| Độ khó khi chẩn đoán | Dễ hơn nhờ có dấu ấn sinh học rõ ràng | Khó hơn, phải dựa nhiều vào khám lâm sàng và loại trừ bệnh khác |
Nhìn bảng này, phản xạ tự nhiên của phần lớn người đọc là kết luận thể âm tính nhẹ hơn. Kết luận đó chỉ đúng một nửa.

Thể âm tính có thật sự nhẹ hơn không?
Không hẳn. Thể âm tính thường được mô tả là nhẹ hơn khi 2 nhóm được so ở cùng một thời điểm chẩn đoán, nhưng chính vì khó nhận ra sớm nên nhiều trường hợp thể âm tính lại được phát hiện ở giai đoạn muộn hơn. Lợi thế ban đầu đó vì thế bị bù trừ đi.
Các nghiên cứu theo dõi dài hạn cho thấy kết cục về sau của thể âm tính không nhất thiết tốt hơn thể dương tính, một phần vì độ trễ chẩn đoán vừa nói ở trên. Quan điểm điều trị hiện nay cũng đã đổi theo: kết quả huyết thanh âm tính không còn được xem là căn cứ để điều trị dè dặt hơn.
Từ đó có một cách hiểu thực tế hơn về 2 chữ dương tính và âm tính. Chúng cho biết máu bạn có kháng thể hay không. Còn thứ quyết định khớp của bạn sẽ ra sao trong mười năm tới là mức hoạt động của bệnh, thời điểm bắt đầu kiểm soát viêm và mức độ bạn theo được kế hoạch điều trị.
Xem thêm: Triệu chứng viêm khớp dạng thấp và dấu hiệu nhận biết sớm
Đọc kết quả xét nghiệm RF và anti-CCP
Kết quả RF và anti-CCP không đọc theo kiểu có hay không, mà đọc theo ba mức: âm tính, dương tính thấp và dương tính cao. Mọi con số đều phải đặt cạnh triệu chứng lâm sàng mới có ý nghĩa. Phần này giúp bạn hiểu tờ kết quả đang cầm trên tay, không nhằm để bạn tự kết luận bệnh. Nội dung gồm cách phân mức, 4 tổ hợp kết quả thường gặp, rồi lý do vì sao kết quả có thể đổi theo thời gian.
Việc đầu tiên khi cầm phiếu xét nghiệm là tìm cột khoảng tham chiếu in ngay cạnh chỉ số của bạn. Ngưỡng dương tính thay đổi theo từng phòng xét nghiệm và loại bộ kit được dùng, nên con số đọc được ở nơi này không so thẳng với nơi khác được. Đó là lý do bạn nên mang nguyên phiếu kết quả đi khám thay vì chỉ nhớ mỗi con số.
Theo tiêu chuẩn phân loại ACR/EULAR 2010, mức dương tính được chia làm 2 bậc, lấy mốc là giới hạn trên của khoảng bình thường:
- Dương tính thấp: giá trị cao hơn ngưỡng bình thường nhưng không quá 3 lần giới hạn trên. Mức này được tính 2 điểm trong thang 10 điểm.
- Dương tính cao: giá trị vượt quá 3 lần giới hạn trên. Mức này được tính 3 điểm.
- Âm tính: cả RF lẫn anti-CCP đều nằm trong khoảng bình thường, tính 0 điểm.

Khoảng cách giữa 2 bậc dương tính không chỉ là chuyện điểm số. Hiệu giá kháng thể càng cao thì bệnh càng có xu hướng hoạt động mạnh, nên bác sĩ thường theo dõi nhóm này sát hơn.
4 tổ hợp kết quả thường gặp
RF và anti-CCP thường được chỉ định làm cùng lúc. 4 tổ hợp kết quả của chúng mang 4 ý nghĩa khác nhau, từ khả năng mắc bệnh rất cao cho tới trường hợp phải đi tìm một chẩn đoán hoàn toàn khác.
| Tổ hợp kết quả | Gợi ý điều gì | Hướng xử trí thường gặp |
|---|---|---|
| RF dương tính và anti-CCP dương tính | Khả năng viêm khớp dạng thấp cao, xu hướng bệnh hoạt động mạnh hơn | Chẩn đoán thường được xác lập sớm, theo dõi sát tiến triển khớp |
| anti-CCP dương tính, RF âm tính | Gợi ý viêm khớp dạng thấp giai đoạn sớm hoặc nguy cơ tiến triển thành bệnh trong tương lai | Theo dõi lâm sàng chặt vì anti-CCP có thể đi trước triệu chứng nhiều năm |
| RF dương tính, anti-CCP âm tính | Có thể là viêm khớp dạng thấp, cũng có thể là bệnh khác vì RF kém đặc hiệu | Cần khám lâm sàng kỹ và làm thêm xét nghiệm bổ sung để phân định |
| Cả 2 đều âm tính | Ít nghĩ tới viêm khớp dạng thấp hơn, nhưng không loại trừ nếu lâm sàng điển hình | Chẩn đoán dựa vào tiêu chuẩn lâm sàng, chính là thể huyết thanh âm tính |
Dòng đáng chú ý nhất trong bảng là dòng thứ ba. RF dương tính không đồng nghĩa với viêm khớp dạng thấp. Chỉ số này còn tăng trong viêm gan siêu vi C, hội chứng Sjögren, lupus ban đỏ hệ thống và một số bệnh nhiễm trùng mạn tính. Đáng chú ý hơn nữa, tỷ lệ RF dương tính ở người khỏe mạnh tăng dần theo tuổi. Một người cao tuổi có RF vượt ngưỡng mà khớp hoàn toàn bình thường là chuyện không hiếm. Anti-CCP đặc hiệu hơn nên tỷ lệ dương tính giả thấp hơn nhiều.
Vậy nên một chỉ số RF vượt ngưỡng, đứng riêng lẻ mà không kèm khớp sưng đau, chưa đủ để gọi tên bất kỳ bệnh nào. Chiều ngược lại cũng đáng lưu ý: anti-CCP dương tính khi triệu chứng còn mơ hồ là tín hiệu cần theo dõi nghiêm túc, vì nhóm này có khả năng cao tiến triển thành viêm khớp dạng thấp rõ ràng trong vài năm sau đó.
Kết quả huyết thanh có thể thay đổi theo thời gian
Một người âm tính ở lần xét nghiệm đầu tiên vẫn có thể chuyển sang dương tính sau vài năm theo dõi. Một nghiên cứu theo dõi nhóm viêm khớp giai đoạn sớm ghi nhận khoảng 10% trường hợp ban đầu âm tính đã xuất hiện RF hoặc anti-CCP trong vòng 3 năm, trong khi vài nghiên cứu khác báo cáo tỷ lệ thấp hơn đáng kể.
Nên khi diễn biến bệnh đi khác dự kiến, bác sĩ có thể chỉ định làm lại xét nghiệm. Ngược lại, làm lại nhiều lần trong lúc bệnh đang được kiểm soát ổn định thường không mang thêm thông tin gì. Quyết định này thuộc về bác sĩ điều trị, dựa trên diễn biến thực tế của bạn, không theo một lịch cố định.
Xem thêm: Cách chẩn đoán viêm khớp: quy trình và xét nghiệm cần làm
Thể huyết thanh ảnh hưởng thế nào tới điều trị?
Hướng điều trị viêm khớp dạng thấp bám theo mức hoạt động của bệnh, không bám theo nhãn huyết thanh: cả 2 thể đều cần kiểm soát viêm sớm và đều được theo dõi bằng cùng một bộ chỉ số. Đây là câu trả lời mà nhiều người tìm mãi không thấy sau khi đọc xong phần so sánh.
4 mục tiêu điều trị áp dụng chung cho cả 2 thể:
- Kiểm soát phản ứng viêm càng sớm càng tốt: giảm đau và giảm sưng khớp, đồng thời chặn quá trình bào mòn xương khi tổn thương còn hồi phục được.
- Đưa bệnh về trạng thái lui bệnh và giữ ở đó: bác sĩ đánh giá lại theo từng đợt rồi điều chỉnh phác đồ dựa trên mức hoạt động bệnh đo được.
- Bảo tồn chức năng vận động: giữ tầm vận động khớp và sức mạnh cơ quanh khớp để bạn tự làm được các việc hằng ngày.
- Hạn chế biến chứng ngoài khớp: theo dõi tim mạch, phổi và mắt theo chỉ định của bác sĩ chuyên khoa.
Về thuốc, nhóm thuốc chống thấp khớp tác dụng chậm (DMARDs) là nền tảng, với mục đích làm chậm quá trình phá hủy khớp chứ không chỉ cắt cơn đau. Việc chọn thuốc, chỉnh liều và theo dõi tác dụng phụ đều thuộc thẩm quyền bác sĩ chuyên khoa. Ở đây có một chỗ hay bị hiểu sai: nhóm thuốc kiểm soát miễn dịch làm tăng nguy cơ nhiễm trùng, đó là tác dụng của thuốc, không phải vì bản thân bệnh tự miễn là một dạng nhiễm trùng. Viêm khớp dạng thấp hiện chưa có cách chữa dứt điểm, nên mục tiêu thực tế là đạt được lui bệnh rồi duy trì trạng thái đó lâu nhất có thể.
Phần còn lại của kế hoạch điều trị là phục hồi chức năng. Đây cũng là chỗ vai trò của bạn lớn nhất. Viêm kéo dài làm khớp cứng dần, cơ quanh khớp teo đi vì ít được dùng, hai thứ này cộng lại khiến bàn tay mất khéo léo và mất lực nắm. Tập vận động đúng cách giúp duy trì tầm vận động, giữ sức cơ, hạn chế co rút. Nhu cầu này giống nhau ở cả 2 thể. Hậu quả trên chức năng vận động không phân biệt bạn có kháng thể hay không.

Vật lý trị liệu và phục hồi chức năng tham gia đúng ở phần này: đánh giá tầm vận động và sức cơ hiện tại, rồi xây dựng bài tập tăng tiến theo từng giai đoạn thay vì áp một giáo án chung cho mọi người. Đây cũng là hướng phòng khám MBJ tập trung, đi song song với phác đồ nội khoa do bác sĩ chuyên khoa chỉ định, không thay thế phác đồ đó.
Xem thêm: Điều trị viêm khớp dạng thấp: phương pháp và lưu ý
Câu hỏi thường gặp
Xét nghiệm RF và anti-CCP có cần nhịn ăn không?
Riêng 2 xét nghiệm này không đòi hỏi nhịn ăn. Dù vậy bạn nên hỏi lại nơi lấy mẫu trước khi đi, vì bác sĩ thường chỉ định chúng chung một đợt với các xét nghiệm khác như đường huyết hay mỡ máu, mà nhóm đó lại cần nhịn ăn.
Viêm khớp dạng thấp có di truyền cho con không?
Bệnh không di truyền trực tiếp theo kiểu cha mẹ mắc thì con chắc chắn mắc. Yếu tố di truyền chỉ làm tăng nguy cơ: người có cha mẹ hoặc anh chị em ruột mắc bệnh có khả năng mắc cao hơn mức chung của dân số, nhưng phần lớn trong số họ vẫn không phát bệnh. Môi trường sống và thói quen sinh hoạt, đặc biệt là hút thuốc lá, cũng góp phần lớn bên cạnh gen.
Bao lâu nên tái khám khi đã được chẩn đoán?
Nhịp tái khám do bác sĩ điều trị ấn định, không có một mốc chung cho mọi người. Giai đoạn đầu khi đang dò liều thuốc và đánh giá đáp ứng, lịch khám thường dày hơn. Khi bệnh đã ổn định, khoảng cách giữa các lần khám được giãn dần ra. Điều cần giữ là đi đúng lịch đã hẹn, kể cả khi bạn thấy trong người bình thường, vì viêm âm thầm vẫn có thể đang tiếp diễn.
Người thể huyết thanh dương tính có kiêng ăn gì đặc biệt không?
Không có chế độ ăn riêng dành cho từng thể huyết thanh. Nguyên tắc dinh dưỡng giống nhau cho cả 2 thể: ưu tiên thực phẩm giàu omega-3 như cá hồi hoặc cá thu, tăng rau xanh và trái cây tươi, hạn chế rượu bia và thực phẩm chế biến sẵn. Dinh dưỡng hỗ trợ giảm viêm nền, nó không thay thế thuốc điều trị.
Khám và phục hồi chức năng viêm khớp dạng thấp ở Bình Dương ở đâu?
Phòng khám Vật lý trị liệu và Phục hồi chức năng MBJ tại Thủ Dầu Một là một địa chỉ bạn có thể cân nhắc cho phần phục hồi chức năng vận động. Việc chẩn đoán thể huyết thanh và phác đồ dùng thuốc vẫn thuộc bác sĩ chuyên khoa cơ xương khớp; phần phục hồi chức năng đi song song để giữ tầm vận động và sức cơ.
Kết luận
Viêm khớp dạng thấp huyết thanh dương tính và huyết thanh âm tính khác nhau ở đúng một điều: máu có tìm thấy RF và anti-CCP hay không. Thể dương tính chiếm phần lớn số ca và dễ chẩn đoán hơn nhờ có dấu ấn sinh học rõ ràng. Thể âm tính khó nhận ra sớm nên hay bị phát hiện muộn. Còn triệu chứng tại khớp, nguyên tắc điều trị và nhu cầu phục hồi chức năng thì gần như giống nhau ở cả hai.
Nếu bạn vừa nhận kết quả dương tính, đó không phải một bản án. Nếu bạn nhận kết quả âm tính mà khớp vẫn sưng đau, đó cũng không phải lý do để yên tâm bỏ qua. Thứ đáng theo dõi trong viêm khớp dạng thấp huyết thanh dương tính hay âm tính là mức hoạt động của bệnh và thời điểm bạn bắt đầu kiểm soát viêm, không phải dòng chữ trên tờ giấy xét nghiệm.
- Arthritis Foundation. Understanding Seronegative RA. https://www.arthritis.org/diseases/more-about/what-type-of-ra-do-you-have (truy cập tháng 08/2026)
- National Rheumatoid Arthritis Society (NRAS). Seropositive and seronegative rheumatoid arthritis (RA). https://nras.org.uk/resource/seropositive-and-seronegative (truy cập tháng 08/2026)
- StatPearls, NCBI Bookshelf. Rheumatoid Arthritis. https://www.ncbi.nlm.nih.gov/books/NBK441999/ (truy cập tháng 08/2026)
- MSD Manuals, Professional Edition. Rheumatoid Arthritis (RA). https://www.msdmanuals.com/professional/musculoskeletal-and-connective-tissue-disorders/joint-disorders/rheumatoid-arthritis-ra (truy cập tháng 08/2026)
- MedlinePlus. Rheumatoid Factor (RF) Test. https://medlineplus.gov/lab-tests/rheumatoid-factor-rf-test/ (truy cập tháng 08/2026)
- NHS. Rheumatoid arthritis. https://www.nhs.uk/conditions/rheumatoid-arthritis/ (truy cập tháng 08/2026)
- Cleveland Clinic. Rheumatoid Arthritis. https://my.clevelandclinic.org/health/diseases/4924-rheumatoid-arthritis (truy cập tháng 08/2026)
English
Bài viết liên quan
Biến chứng viêm khớp dạng thấp và cách nhận biết, phòng ngừa sớm
Viêm khớp dạng thấp là bệnh nguy hiểm nếu không được kiểm soát tốt: viêm hệ thống kéo…
Viêm khớp dạng thấp có chữa khỏi được không?
Viêm khớp dạng thấp có chữa khỏi được không là câu hỏi đầu tiên hầu hết người mới…
Viêm khớp dạng thấp kiêng ăn gì? Thực đơn chống viêm cho bạn
Người viêm khớp dạng thấp nên kiêng thịt đỏ, đường, muối, chất béo xấu và rượu bia, đồng…
Viêm khớp có chữa được không và cách kiểm soát bệnh hiệu quả
Viêm khớp mạn tính không thể chữa khỏi hoàn toàn, nhưng có thể kiểm soát hiệu quả nếu…